Mẫu Chuyện Thời Thơ Ấu

của Lê Bá Thông


(Kính tưởng niệm hương hồn Cậu D́)

Hai vợ chồng người dân quê, mặt mày đen đúa với vết than đầy mặt, hai chân không, đang rảo bước trên con đường đất đi về hướng An Lỗ, về cây số mười bảy. Trên vai mỗi người là một túi gạo khoảng mười kí lô, chiếc áo dài đen sờn vai ẩm ướt dính vào thân h́nh gầy c̣m của hai người dưới cơn nóng oai bức của mùa hè xứ Huế. Thỉnh thoảng hai người bước chậm lại để chờ cậu con trai nhỏ chừng khoảng sáu hoặc bảy tuổi, vai cũng mang một bao nhỏ đựng một hai kí lô gạo, đang chân không chạy lơn tơn theo cha mẹ. Cậu bé cũng mặc chiếc áo dài đen cụt ngủn ngang quá đầu gối. Mặt mày Nguyên, tên cậu bé, đỏ hồng như cô bé gái v́ sức nóng của thời tiết và v́ cậu ráng sức vác bao gạo đi nhanh cho kịp bố mẹ kẻo chậm lại khi đến làng La Chữ th́ trời tối lắm.
Con đường từ Huế đến làng La Chữ khoảng chừng mười một cây số La Chữ nằm về phía trong núi phía tây của quốc lộ Một trên đường đi ra Quảng Trị. Đây là làng của người bạn của cha Nguyên. Ông có một căn nhà ở chỗ này và cha đă quyết định tản cư và rời Huế đưa hai mẹ con Nguyên lên đây để trốn Tây. Ông sợ ở dưới Huế, Tây bắt thanh niên và nghe đâu tụi Lê Dương hảm hiếp đàn bà con gái dữ lắm, v́ vậy nên ông vác gạo lên đường với hai người thân yêu của ông đi lánh nạn.
Nh́n người vợ trẻ phải bôi mặt với than đen cho xấu và đứa con vừa chập chững vào đời, ḷng ông thắt lại. Ông dừng lại, để bao áo quần và bao gạo xuống bên vệ đường, móc trong túi áo ra một cây kẹo mè xững, rồi ngồi cḥ hỏ chờ Nguyên đến gần, vừa đưa cho con, vừa hôn vào chiếc má lấm tấm từng hột mồ hồi nhỏ, khen vài câu, xoa đầu đứa con trai rồi xách hai bao vải tiếp tục cuộc hành tŕnh di tản.

Đêm đă về khuya, Nguyên nằm trên chiếc chiếu trải trên nền đất phía nhà sau, Nguyên không ngủ được, đâu phải v́ sợ nhà lạ hay đêm tối, đă có cha mẹ ḿnh nằm hai bên mà. Nhưng Nguyên không ngủ được v́ đang lắng tai nghe tiếng tụng kinh của ông thầy tụng trầm bỗng trong đêm trường, nghe hay và buồn làm sao không tả được. Cái giọng Huế lên xuống theo tiếng chuông mỏ khi th́ kéo dài, khi th́ ngắt đoạn đưa tâm tư của cậu bé lâng lâng như bị thôi miên vào tiếng kinh kệ.
Hồi chiều khi ba người vừa đến nhà của người bạn, ông thầy chùa ra chào và hỏi về t́nh h́nh ở Huế, có vẻ như là muốn biết nhiều về sự di chuyển của Tây trong thành phố. Nhưng cha của Nguyên nói ông có biết ǵ đâu. Chỉ mỗi cái việc lo mua vài chục kí lô gạo, rồi thu xếp, rời cái nhà nhỏ dưới bến đ̣ Cồn mà c̣n sợ không kịp trước khi Tây đổ bộ lên từ Thuận An. May mà chạy trước khi Tây đến, chứ không bây giờ chắc cũng bị kẹt ở trong Huế rồi.

Sau khi ăn cơm sơ sơ xong, ông thầy chùa rời nhà đi đâu không biết măi đến gần khi trăng mười chín mọc, ông mới trở về và bắt đầu tụng kinh khi trong nhà sửa soạn tắt những ngọn đèn dầu phụng leo lét để đi ngủ. Vừa nằm một lúc cha mẹ của Nguyên có lẽ v́ thấm mệt với cuộc hành tŕnh trong ngày nên Nguyên đă nghe tiếng ngáy của cha và hơi thở nhẹ nhàng của mẹ, đang choàng tay qua ôm đứa con trai thân yêu nhất của ḿnh như sợ bị đánh mất giữa cuộc chiến gian khổ của đất nước và cuộc đời gian truân của chính ḿnh. Riêng Nguyên th́ cứ nằm yên lặng nh́n những h́nh bóng kỳ lạ nhảy múa trên bức tường, trong ánh đèn chập chờn của ngọn đèn dầu phụng từ nhà trên rọi xuống, thoang thoảng trong mơ tiếng chuông mỏ xa dần rồi Nguyên ch́m từ từ vào cơn ngủ mê khi nào không hay.

Hai vợ chồng và đứa con trai lên La Chữ được hơn một tuần. Mỗi ngày mẹ thường ra chợ đầu làng bán những áo quần cũ mang từ Huế lên để kiếm thêm tiền mua thức ăn. Đây là những áo sơ mi, áo vét tông của cha và những chiếc áo dài, đồ bộ bằng lụa mà cha của Nguyên đă sắm cho vợ ḿnh khi ông c̣n giàu có, lúc vừa mới đem mẹ về làm dâu cho gia đ́nh. Sau đó v́ lư do thất bại trong việc làm ăn mà chỉ trong vài năm sự nghiệp tan tành, chỉ c̣n lại một ít tiền để chi tiêu qua ngày. Mẹ rất buồn khi phải bán đi những kỷ vật của ḿnh, nhưng lúc này giữ lại th́ không có tiền mua gạo, thôi th́ hy sinh một tí cũng được. Cha Nguyên lúc nào cũng ngồi cạnh vợ tại chợ cho khi đến khi chợ tan rồi mới về. Trong khi cha mẹ ra chợ, Nguyên chạy chơi với mấy đứa con những người nông dân ở gần đó. Chúng nó chăn trâu tài lắm, trâu to như vậy mà nghe lời tụi nó răm rắp, biểu đi là đi, biểu đứng lại là đứng lại liền, nếu không tụi nó dùng cành cây tre nhỏ đập vào chiếc mông to tṛn của con trâu. Nguyên được một anh lớn tuổi, khoảng chừng mười hai mười ba ǵ đó, bồng nó lên cởi lưng trâu, Nguyên khoái lắm, đây là lần đầu trong đời được ngồi trên lưng trâu. Sao mà nó êm đến như vậy. Những khi trâu rảo bước chầm chậm, Nguyên sợ té nhưng nhờ có anh này ngồi ôm phía sau nên Nguyên cũng yên ḷng, một tay giữ lấy cánh tay mặt của anh ta, một tay cầm chặt chùm lông cổ của con trâu để giữ thăng bằng. Mấy đứa này gọi Nguyên là "người trên dinh", Nguyên không hiểu, sau hỏi mẹ mới được giải thích "người trên dinh" là người ở thành phố, những người nhà quê đặt tên người ở tỉnh thành như vậy.

Cuộc sống trầm lặng kéo dài được gần ba tuần lễ, hằng ngày cha đi hỏi mấy người lên xuống Huế buôn bán, về t́nh h́nh dưới phố. Cha về nói cho mẹ biết Tây đang đóng quân tại Ṭa Khâm và đồn Mang Cá, mang tàu lên gần bến Đập Đá và bắt đầu chuyển lính Lê Dương đi lùng, phía nam về hướng Hương Thủy, phía bắc về hướng An Ḥa, cách làng La Chữ ba cây số về phía đông trên quốc lộ Một. Khi nghe được tin này, cha mẹ sợ lắm, ông ra phía sau vườn, đào một cái hầm, dưới con rạch khô nhỏ, chung quanh là rặng tre dày chạy dọc theo con rạch phủ đầy những cành cây tre, lá tre che kín, đứng gần cũng không biết có hầm trú ẩn dưới đó.
Riêng ông thầy chùa th́ cứ đi măi đến tối mịt mới về nhà, không ai biết ông đi đâu và làm ǵ, chỉ thấy ông che dấu cái ǵ ở dưới chiếc áo màu nâu sồng khi ông ra khỏi nhà.
Nguyên đă quen với tiếng tụng kinh hằng đêm của ông thầy chùa, cậu ta c̣n thuộc ḷng những câu kinh dễ nhớ và mỗi buổi chiều khi mẹ về ngồi chơi với Nguyên ở ngoài sân, cậu giả giọng lên xuống của ông thầy tụng kinh cho mẹ nghe làm mẹ vui và cảm thấy thương con, ôm chặt con vào ḷng. Nguyên thương mẹ lắm, cậu thường ôm chiếc cổ trắng ngần và hôn vào đôi má cũng trắng hồng của bà. Nguyên thích nh́n mẹ cười v́ mỗi lần như vậy, Nguyên thấy hai hàm răng màu đen hạt huyền, đều đặn duyên dáng dưới chiếc miệng cân xứng với khuôn mặt của mẹ. Nguyên biết mẹ ḿnh rất đẹp v́ vậy cha mới sợ Tây Lê Dương bắt gặp mẹ. Mẹ Nguyên rất ít nói, mà khi nói th́ giọng nói rất nhu ḿ và nhỏ nhẹ như tiếng chim trên cành. Giọng Huế đặc biệt mặc dù quê mẹ ở tận măi trong tỉnh Phước Tường, Quảng Nam. Một tỉnh nhỏ nằm gần chân đèo Hải Vân, cạnh vịnh Đà Nẳng, nơi có tiếng là con gái rất đẹp, có lẽ v́ phong thổ gần núi gần biển, trời xanh mây trắng bao phủ những ngày nắng ấm.

Sáng hôm đó khi trời vừa rạng đông, cả nhà chợt tỉnh giấc khi nghe tiếng máy bay bà già bay ngang qua mái nhà thật thấp. Cha vội vàng vùng dậy, v́ với kinh nghiệm của ông, cha biết máy bay này là loại máy bay thám sát, thường bay đi dọ thám và chỉ đường cho pháo binh của Tây bắn đại bác mở đường cho lính Tây đi lùng. Cha vội lấy b́nh đựng nước và vài cái bánh ú rồi gọi lên nhà trên cho người bạn và ông thầy chùa biểu họ chạy gấp v́ Tây sắp đến, xong rồi ông bồng Nguyên và d́u mẹ Nguyên chạy về phía chiếc hầm ông làm sẵn trước, dưới con rạch khô phía sau rừng cách nhà khoảng vài trăm thước. Khi đến nơi ông cẩn thận vạch lá tre đưa mẹ con Nguyên xuống nằm sâu dưới đó rồi phủ kín lá tre che kín lại. Nhờ lá tre nên hai mẹ con Nguyên vẫn có không khí để thở và nằm rất thoải mái dưới chiếc hầm trốn Tây khéo léo chuẩn bị của cha Nguyên. Dù ai đứng gần cũng không làm sao biết có người đang trốn dưới đó. Sau khi lo xong cho vợ con ḿnh, cha Nguyên cũng làm một chỗ trốn cho chính ḿnh, cũng rất kín đáo nhưng lại có thể quan sát được những ǵ đang xảy ra chung quanh.
Vừa chuẩn bị xong th́ ba người đă nghe tiếng súng pháo binh bắn vào làng về phía chợ và nhà thờ họ của dân tại đây. Tiếng súng càng nghe gần hơn khi mặt trời lên cao khỏi ngọn tre. Nguyên cảm thấy người của mẹ run lên nhè nhẹ v́ sợ hải, cậu ôm mẹ chặt hơn như trấn an rồi hôn vào má của người mẹ hiền kính mến của ḿnh. Hai mẹ con ôm nhau trong khi cha đang ngoái cổ lên để nh́n về hướng cổng làng.

Ba người nằm trốn dưới đó khoảng hai ba tiếng đồng hồ ǵ đó th́ nghe tiếng chó trong làng bắt đầu sủa liên tục trong khi tiếng súng trường và súng tiểu liên nổ ḍn trong buổi sáng tại vùng quê hẻo lánh. Cha Nguyên biết Tây Lê Dương và lính Ma Rốc Ken đă vào đến ven làng và có lẽ sẽ đi ngang qua đây trong chốc lát. Ông vội vàng kéo thêm lá tre phủ kín người ông rồi lặng lẽ và hồi hộp... chờ.
Thời gian trôi qua thật chậm, ba người cảm thấy trống ngực đập mạnh thêm khi nghe tiếng con chó của ông dân quê hàng xóm vừa kêu ăng ẳng như bị ai đá trúng vừa chạy vừa sủa vang xóm. Thế rồi ba người nghe tiếng tiểu liên nổ một loạt và con chó im không c̣n sủa nữa.
Nguyên bỗng nhớ lại mấy câu kinh tụng Nam Mô Cứu Khổ Cứu Nạn Quán Thế Âm Bồ Tát của ông thầy, rồi cậu chợt nghe mẹ đang run giọng th́ thầm niệm câu kinh đó. Cha Nguyên đoán chừng tụi Tây đang lùng mấy nhà phía trước và nhà của người bạn, ông biết người bạn này cũng có một cái hầm rất bí mật ông đă làm cho ông này sau lưng chiếc tủ thờ và ông cầu nguyện ông ta có đủ thời giờ để vào trốn trong đó. Về phần ông thầy chùa, cha Nguyên thấy ông chạy về hướng núi khi ông đưa hai mẹ con Nguyên ra con rạch này. Bây giờ không biết số phận ông thầy ra sao.

Tiếng súng thỉnh thoảng nghe nổ lên từng hồi tiếp sau đó là tiếng người chạy và súng nổ liên tục. Tiếng Tây nói chuyện với nhau trên máy truyền tin nghe rất rơ và h́nh như có người đang đi đến gần về phía ba cha con đang trốn. Nguyên không nghe tiếng mẹ niệm kinh nữa, cậu định th́ thầm hỏi th́ đă bị mẹ lấy tay bịt miệng lại và ra dấu nằm im. Rồi đột nhiên cả ba người nghe tiếng chân đi xào xạt trên lá về hướng rặng tre bên bờ trên con rạch nhỏ.
Tất cả đều nằm im nín thở và lo lắng, mồ hôi rịn ra trên bàn tay mẹ, hơi run run. Nguyên nằm im thinh thích, rồi cậu chợt nghe tiếng nước chảy róc rách đâu đây, giống như có người đang đi tiểu tiện. Mùi nước tiểu xông lên nồng nặc nhưng cậu không dám lấy tay bịt mủi lại v́ sợ thằng Tây nó nghe. Có lẽ tên này uống nhiều rượu trước khi đi lùng dân An Nam hay sao mà hắn tiểu lâu quá. Sau khi tưới chết mấy cây tre già xong tên lính này thở ra như thỏa măn, quay ngược trở về hướng nhà và rồi ba người nghe tiếng xi xô xa dần đi về hướng núi của dăy Trường sơn.

Nguyên nghe tiếng mẹ thở mạnh hơn và một lúc sau cha vén lá tre để nh́n xem t́nh h́nh như thế nào. Ông bảo hai mẹ con cứ tiếp tục nằm yên v́ ông sợ tụi Tây có thể trở lại đây lúc kéo quân về. Tiếng chó sủa nghe cũng xa dần và sau một lúc tất cả đều im lặng.
Ba người nằm dưới hầm cho đến khoảng xế trưa, cha Nguyên đánh bạo ngồi dậy ra khỏi hầm của ông và từ từ cẩn thận ḅ dọc theo con rạch ra phía cây xoài sau nhà, leo lên cây măng cụt nh́n bốn phía để xem lính Lê Dương đă đi khỏi làng chưa.
Từ xa, về hướng đ́nh làng, ông thấy một hai căn nhà tranh bị đốt cháy, khói đen vẫn c̣n bay nhẹ trong bầu trời xanh không gợn mây của ngày cuối hè đầu thu. Ông thấy dân bắt đầu ra khỏi những nơi trú ẩn, đứng lố nhố chỉ trỏ về hướng cổng làng gần nơi chợ nhóm như bàn tán chuyện ǵ. Linh tính cho cha biết tụi lính Lê Dương đă rút đi lùng chỗ khác và có lẻ trước khi đi chúng đă để lại xác những người dân bị chúng nó bắn chết khi đi lùng tại làng này. Ông leo xuống khỏi cây măng cụt, chạy ra hầm trú ẩn và d́u hai mẹ con Nguyên ra khỏi rặng tre. Ông bồng Nguyên lên để đi vào nhà cho nhanh hơn, bỗng nhiên ông cảm thấy cánh tay ông ướt át, ông ngừng lại và mỉm cười, th́ ra cậu con trai quư của ông v́ quá sợ đă đái trong chiếc quần xà lơn của cậu hồi nào mà cậu cũng không hay biết.

Khi vừa bước vào nhà, ba người thấy người bạn đă ra khỏi chỗ ẩn trốn, mặt mày vẫn c̣n sợ hăi, ông ta nói tụi nó lục soát sơ sơ thôi chứ mà t́m kỹ càng, có lẽ ông cũng bị bắt rồi. Nh́n bàn ghế lăn lóc trên nền nhà và chén bát bể nát tứ tung, cha Nguyên thấy lần này ḿnh quá may mắn nhưng ông sợ rằng những lần sau, khi tụi Tây trở lại không biết có sống sót như thế này nữa không.
Sau khi ăn vào mấy chiếc bánh ú, ông nói với mẹ ở nhà để ông đi ra chợ làng xem chuyện ǵ đă xảy ra sau khi Tây rút đi. Nguyên năn nỉ xin cha cho đi theo, ban đầu cha từ chối nhưng thấy con nước mắt nước mũi ṛng ṛng, ông dặn ḍ vợ cẩn thận rồi thay quần khác cho Nguyên và nắm tay con trai đi lên chợ làng. Dọc theo con đường dẫn đến chợ làng, những mái nhà tranh c̣n cháy âm ỉ và đang được dân làng dùng nước giếng để chửa cháy. Từng nhóm người đang đứng bên đường kể cho nhau nghe về những hành động dă man cũng như thiệt hại và mất mác mà tụi Tây đă gây ra cho dân làng.

Khi đến gần chợ làng cha Nguyên để con xuống và cầm tay con đi về phía đám đông đang tụ tập tại khoảng đất trống giữa chợ. Tiếng khóc của những người đàn bà nghe thật năo ḷng; trước mặt hai cha con là bốn người đàn bà, người th́ lăn lộn dưới đất, người th́ quỳ gối, đang khóc lóc, kể lể, than trời trách phận cạnh bốn xác chết của những người thân được phủ bằng manh chiếu cũ. Chung quanh họ là các con, các cháu, thân nhân của gia đ́nh mặt mày đầm đ́a nước mắt, đang cố trấn an và vỗ về nhau.
Cha con Nguyên đứng lặng người trước khung cảnh đau ḷng của đồng bào ḿnh. Hậu quả chiến tranh đă bắt đầu xảy ra hàng ngày trên dải đất nghèo nàn cằn cỗi, xa xăm ít người biết tới. Cha đứng dáng đăm chiêu như đang suy nghĩ và tính toán điều ǵ. Mặc dù đang nhỏ nhưng Nguyên cũng thấy buồn và nước mắt ḿnh tự nhiên chảy dài xuống má v́ quá cảm động với cảnh tượng đau ḷng trước mắt cậu. Cha con Nguyên c̣n thoáng nghe những người đứng cạnh nói về việc tụi Tây Lê Dương rất tàn nhẫn hảm hiếp đàn bà con gái mà chúng bắt được, có người bị ngất xỉu v́ tụi nó thay nhau phá hại đời con gái. Ngoài ra tụi Tây c̣n bắt nhiều thanh niên mà chúng nghi ngờ có liên hệ đến Việt Minh để đem về tra tấn và hỏi cung.

Trời đă về chiều, trên trời chim vạc bắt đầu bay về núi, cất tiếng kêu cô đơn như muốn chia sẻ và chung ḥa vào tiếng oán than trong chiều của những người đàn bà vừa mới trở thành góa phụ, trong cuộc chiến tranh tàn nhẫn đă và đang lan tràn trên quê hương Việt Nam nghèo nàn khốn nạn này.
Lúc hai cha con về đến nhà th́ trời vừa chạng vạng tối, những con dơi núi bay đầy trời, chúng nó lùng kiếm và bắt muổi dưới bầu trời đỏ v́ ánh mặt trời lặn về hướng núi. Như vậy là ngày mai trời có thể mưa rồi, Nguyên thầm nghĩ như vậy, v́ mẹ thường nói " vàng gió đỏ mưa ".

Sau khi mẹ dọn cơm cho gia đ́nh ăn, cha nói với mẹ về ư định của ḿnh. Ông muốn đi về Huế xem xét t́nh trạng cuộc sống dưới đó trong những ngày sắp tới. Ban đầu mẹ c̣n ngăn cản v́ sợ cha có thể bị Tây bắt, nhưng sau đó cha thuyết phục với những lư do của ông, mẹ ch́u ư chồng ḿnh nhưng khuyên là nên chờ đợi vài ngày nữa để t́nh h́nh sáng tỏ hơn và dọ hỏi những người về Huế buôn bán rồi quyết định.

Ông thầy chùa cũng đă trở về nhà khoảng nửa giờ sau, ông nói với mọi người là ông cũng quyết định rời La Chữ để đi chỗ khác v́ nơi đây gần Huế quá, Tây sẽ đi qua đây nhiều hơn v́ làng này nằm giữa giao tuyến chuyển quân của Việt Minh và của Tây. Ông dự đoán trong tương lai nơi này sẽ là băi chiến trường giữa Tây và Cách mạng. Có lẽ ông thầy chùa biết nhiều hơn nữa nhưng ông không nói cho mọi người hay. Cha nh́n mẹ Nguyên như nói cho mẹ về quyết định của ông càng phải được thi hành sớm hơn dự định. Bà nh́n lại chồng với ánh mắt lo âu nhưng có vẻ rất đồng ư với ông.

Ngoài trời đêm bắt đầu phủ chiếc áo màu đen xuống bao bọc vùng quê vắng, tiếng chuông trống từ hướng đ́nh làng, bỗng nghe vang dội phá tan sự tỉnh mịch của đêm trường. Mọi người đều đi ra vườn nh́n về phía ánh đuốc đang sáng rực trời, họ nghe tiếng phèn la rồi thấy trên đường một chú nhỏ đang vừa đánh phèn vừa la lớn mời dân làng đến sân đ́nh để họp khẩn cấp. Sau lưng chú từng toán dân làng lũ lượt đi về phía đó.
Người bạn vào đóng cửa nhà rồi cùng mọi người kể cả Nguyên cũng theo đoàn người vội vàng rảo bước đến đ́nh làng để xem chuyện ǵ đang xảy ra tại đây. Cha vừa bồng Nguyên vừa nắm tay phải của mẹ, ḷng phân vân đi cạnh ông thầy chùa và người bạn của cha. Nguyên gối đầu lên vai cha v́ mệt nhoài, cậu lim nhim ngủ theo nhịp chân của cha.
Khi mọi người đến nơi, sân đ́nh đă chật cứng người, dân chúng đang đứng làm thành một ṿng tṛn chung quanh khu đất trống. Trước cổng đ́nh ngay tại các tầng cấp dẫn vào điện thờ là một chiếc bàn gỗ dài, bên cạnh là một lá cờ cở trung b́nh, màu đỏ sao vàng, cán cờ được cột vào chân bàn.

Ngồi sau chiếc bàn là năm người mặc áo bà ba đen, cổ choàng những chiếc khăn đỏ, tuổi xấp xỉ từ hai lăm đến ba mươi, mặt người nào cũng có vẻ nghiêm trọng. Mỗi góc sân đ́nh là một người thanh niên một tay cầm ngọn đuốc, một tay cầm súng trường hoặc cây mă tấu, cũng trong bộ đồng phục bà ba đen choàng khăn đỏ với những khuôn mặt c̣n rất trẻ.
Giữa sân đất là một đống củi gỗ lớn được sắp h́nh kim tự tháp, đang cháy ngùn ngụt sáng cả bầu trời nhiều sao. Hai chiếc ḥm gỗ thông được đóng vội đặt nằm trên hai cái đ̣n dài, kê trước đống lửa với ánh sáng bập bùng, làm tăng thêm vẻ ma quái của buổi tập họp.
Người cán bộ trung niên, ngồi ở giữa nh́n quanh sân đ́nh, có lẽ đă vừa ư với tổng số người tham dự, anh đứng dậy, tay cầm chiếc loa phóng thanh, làm bằng nhôm, với giọng Quảng Trị sang sảng, lớn tiếng tuyên bố lư do buổi tập họp của nhân dân đêm nay. Sau khi lên án tụi Tây thực dân tàn ác dă man, giết hại dân lành vô tội và nêu cao thành tích cứu nước của Cách mạng, anh nói là buổi họp c̣n để xữ án những tên Việt gian nằm vùng, đă chỉ điểm cho Tây giết hại những cán bộ của Cách mạng sáng hôm nay.

Mọi người chợt nghe tiếng khóc của hai người đàn bà từ trong đám đông chạy ra, ôm hai chiếc ḥm, kể lể thảm thiết làm ai nấy đều cảm động, rơm rớm nước mắt. Người cán bộ tiếp tục khêu gợi ḷng căm thù của dân làng, rồi anh chỉ thị cho đàn em dẫn hai người đàn ông, hai tay bị trói giật về phía sau, đang từ từ bước đến tŕnh diện trước ṭa án nhân dân.
Cha Nguyên nhận ra được người trẻ tuổi đang đi trước là người thường đi xuống Huế để mua hàng về bán lại cho dân làng nhưng ông không biết người thanh niên thứ hai là ai. Tên cán bộ một tay nắm sợi giây thừng cột tay hai tội nhân của Cách mạng, tay kia vừa cầm khẩu súng lục đẩy mạnh vào lưng của hai người dân quê đang cúi mặt thất thểu lê chân bước đi nhọc nhằn, có lẽ v́ kiệt sức sau khi đă bị cán bộ đánh đập tra tấn suốt cả ngày.

Tiếng hoan hô và đả đảo ồn ào làm Nguyên giật ḿnh tỉnh dậy, cậu dụi mắt nh́n quanh trên vai cha, lấy tay che mặt v́ ánh lửa sáng rực chói cả mắt của cậu. Cha Nguyên để con xuống đất và đưa tay lên miệng ra dấu cho con đứng im, tay ông nắm chặt lại như sợ mất con.
Hai tội nhân bị xô té trước chiếc bàn dài, nằm cong người dưới những cái đá vào mông, vào ngực từ người cán bộ, đang được dân làng hoan hô náo nhiệt.
Sau khi xướng ngôn viên đọc bản cáo trạng và kết án hai tội nhân, tiếng người càng la hét ồn ào thêm. Bỗng nhiên trong đám đông, về phía các cán bộ đang đứng, mọi người nghe tiếng hô lớn " giết nó đi " và thế là cả rừng người đều la lớn " giết nó đi, giết tên Việt gian đi ". Người cán bộ ngồi ở giữa bàn đứng lên, đưa hai tay lên khỏi đầu, ra hiệu cho mọi người im lặng, rồi nghiêm nghị tuyên bố, nhân danh Chính phủ Cách mạng, anh ta chấp thuận bản án của nhân dân và ra lệnh xử tử hai tên phản bội dân tộc này.

Thế là máu hận thù lại rơi trên nền đất lạnh của vùng quê hương Việt Nam hẻo lánh. Hai thân xác của tội nhân bị bắn chết bởi cán bộ Cách mạng nằm trong tư thế uất ức quằn quại v́ không được biện hộ khi bị họ kết án tử h́nh. Trên không vầng trăng lưởi liềm không đủ ánh sáng, đang treo lơ lửng về phía tây, trên đỉnh núi của dăy Trường sơn. Luật của kẻ mạnh dù ở đâu và lúc nào cũng được dùng làm công cụ và là phương tiện sau cùng, để kết thúc bản án dành cho những nạn nhân đối lập của chế độ.

Ngày hôm sau, đúng như lời nói của mẹ, trời mưa như trút suốt ngày, bong bóng nhảy đầy sân. Cha mẹ Nguyên nói chuyện với người bạn của cha Nguyên và cho biết là sáng mai, cả gia đ́nh sẽ về lại Huế. Cha đă có quyết định như vậy sau khi chứng kiến những ǵ đă xảy ra tối hôm qua. Ông không biết chuyện ǵ sẽ đến trong tương lai cho những "người trên dinh" từ xa tản cư tại đây như gia đ́nh ḿnh. Nhất là việc Tây đi lùng liên tục, làm sao mà trốn tránh măi được. Thôi th́ cứ đánh liều, về lại Huế rồi sẽ t́m cách đối phó với việc ǵ đến với gia đ́nh.
Nguyên xin phép chạy qua nhà bên cạnh để từ giă anh bạn đă cho ḿnh cởi trâu hôm trước và tặng cho anh chiếc tàu buồm mà cha đă khéo tay làm cho Nguyên trong thời gian rảnh rỗi tại làng La Chữ. Nguyên ở lại chơi với anh này cho đến chiều, cậu ra sau chuồng thăm con trâu, hôm nay khỏi phải ra đồng v́ trời mưa. Khi trở về nhà Nguyên khoe với cha mẹ chiếc sáo tre mà anh bạn đă tự tay làm và tặng cho Nguyên để kỷ niệm. Cha Nguyên đang thu xếp áo quần bỏ vào hai chiếc bao vải, c̣n mẹ th́ đang ngồi nhúm lửa để nấu một nồi xôi chuẩn bị mang theo chuyến trở về ngày mai.

Khói rơm bay tỏa đầy nhà dưới. Nh́n mẹ đang thổi lửa và cố gắng giữ cho ngọn lửa tiếp tục cháy, nước mắt chảy đầy hai g̣ má v́ khói, Nguyên chạy tới phụ thổi với mẹ làm tro bụi văng lên tung tóe, hai mẹ con ôm nhau cười vui trong ánh lửa bập bùng.
Bên ngoài trời vẫn c̣n mưa rả rích, thỉnh thoảng một cơn gió lạnh thổi xuyên qua tấm liếp che cửa nhà bếp, báo hiệu cho ngày vào thu sắp đến.

Tối hôm đó ông thầy chùa nói vài câu từ giă với cha mẹ Nguyên, trước khi ông bắt đầu tụng kinh, ông chúc hai người may mắn và nhiều sức khỏe. Thế rồi ông xoa đầu Nguyên, khen Nguyên giỏi và thích hoạt động, biết nghe lời và thương cha mẹ. Ông nói với cha mẹ là ông coi tướng Nguyên trong tương lai sẽ trở thành một người có tiếng tăm trong xă hội.

Mọi người đi ngủ sớm v́ cha Nguyên dự trù sẽ lên đường khi trời rạng sáng để có thể đến Huế vào buổi chiều. Nguyên chập chờn trong tiếng tụng kinh trầm bỗng của ông thầy, một con người mang nhiều bí ẩn sau chiếc áo nâu sồng và rồi khi tiếng mưa róc rách bắt đầu nghe nhẹ bớt, Nguyên đă đắm ch́m vào cơn ngủ say, trong bóng tối của một vùng quê chỉ biết một lần, nhưng kỷ niệm vẫn nhớ măi trong tim của cậu bé vừa chập chững vào đời.

Sáng hôm sau khi tiếng gà của nhà hàng xóm bắt đầu gáy, ba người đă lên đường trong lúc người bạn của cha Nguyên và ông thầy chùa đang c̣n ngủ mê. Cha mẹ Nguyên đă từ giă và cám ơn người bạn của ḿnh từ tối hôm qua và nói sẽ rời nhà rất sớm nên sẽ không đánh thức ông ta dậy. Mẹ đă tế nhị để lại cho ông bạn tất cả gạo và thức ăn, đồ đạc mà mẹ đă mua sắm trong thời gian gia đ́nh tạm trú tại đây. Cha đă biết con đường tắt dọc theo cánh đồng lúa nằm phía sau nhà về hướng đông, nên ông đưa hai mẹ con theo con đường đất này. Lần này ba người đều có mang ba đôi dép mà cha đă làm từ mấy miếng cao su mua ở chợ làng, nên đi rất êm và không bị đau chân như trước đây.
Trời đă tạnh mưa từ khuya, hạt mưa chỉ c̣n đọng lại trên cành tre và những rừng lau bên đường. Xa xa về hướng đông, vầng dương đă bắt đầu tỏa những tia sáng nhiều màu sắc, khởi đầu cho một ngày mới. Vầng mây hồng lờ lững trong gió trên bầu trời màu xanh nhạt và một vài con c̣ trắng đang lượn bay trên ruộng lúa vàng chưa gặt. Nguyên cảm thấy thích thú trước thiên nhiên và không khí buổi sáng trong lành của quê hương yêu dấu, cậu chạy tung tăng đuổi theo những con chim sẻ đang bay vờn sát mặt đất. Nguyên rất thoải mái v́ lần này cậu không phải mang trên vai túi gạo như lần đi tản cư cách đây hơn một tháng.

Khi ba người ra đến quốc lộ Một th́ mặt trời đă lên cao. Trên đường tấp nập người dân hồi cư trở về Huế sau một cuộc tản cư ngắn ngủi. Nào là xe ḅ, xe ngựa, xe thổ mộ, xe đạp và xe kéo... thôi th́ rộn rịp và đông đúc. Cha mẹ Nguyên bắt đầu thấy yên ḷng hơn khi nghe những người hồi cư nói về t́nh h́nh sáng sủa tại Huế. Có lẽ v́ muốn mua ḷng dân thuộc địa nên tụi Tây đă nới tay và không gây khó dễ cho dân địa phương. Ngoài ra để trấn an dân chúng, chính phủ Tây tại đây c̣n đưa ra ṭa xử án những tên lính Lê Dương bị tố cáo đă hảm hiếp đàn bà con gái khi tụi nó đi hành quân.
Chợ Đông Ba đă được nhóm họp và buôn bán như thường lệ, miễn là phải đóng thuế cho Tây và cho chính phủ bù nh́n địa phương do Pháp mới thành lập. Cha mẹ Nguyên rất vui với quyết định sáng suốt của ḿnh, định mệnh đă an bài cho gia đ́nh ông, v́ nếu không có những biến cố đau buồn xảy ra ngày hôm qua, có lẽ cha mẹ và Nguyên sẽ ở măi tại La Chữ, một vùng quê mộc mạc và bị chia cách với xă hội bên ngoài này.

Khi đi ngang qua chợ An Ḥa, ba người thấy người ta tụ tập buôn bán đông đúc. Mẹ thấy Nguyên có vẻ như đă thấm mệt nên đề nghị với cha dừng lại để nghỉ chân và ăn trưa. Cha Nguyên chọn một chỗ ngồi cạnh một cây bàng lớn, lấy trong túi áo ra một ít kẹo dừa đưa cho Nguyên, trong khi mẹ lấy ra mấy nắm xôi gói bằng lá chuối và một gói muối mè từ trong chiếc giỏ mây đan. Thế rồi ba người vừa thưởng thức món ăn thuần túy ngon miệng của quê hương, vừa ngắm đoàn người hồi cư đang lũ lượt nối đuôi nhau xuôi về Huế.
Sau khi ăn xong, cha ngồi xỉa răng, c̣n mẹ th́ thu xếp đồ đạc bỏ vào giỏ, riêng Nguyên th́ ṭ ṃ đứng ngắm những con chim bồ câu "mới ra ràng" được dân quê bày bán trong lồng. Đang say mê nh́n chim, chợt Nguyên nghe tiếng của một đứa con gái đứng bên cạnh nói với người bán chim: " thả chim ra đi, thả chim ra đi ". Cậu quay nh́n và gật đầu như đồng ư. Chim trời th́ phải được tự do bay lượn, chứ đâu lại bị bắt nhốt trong lồng như thế. Hai đứa trẻ bắt đầu gợi chuyện để nói với nhau, ban đầu th́ nói về chim bồ câu, dần dần về mấy con thỏ, con trâu... và rồi khi hai cha mẹ của cô bé đă làm quen với cha mẹ Nguyên, hỏi lư lịch quê quán của nhau, th́ Nguyên và Huyền, tên cô bé, đang chia nhau những chiếc kẹo dừa mà cha vừa cho hồi năy.

Hai gia đ́nh đang định đứng lên để tiếp tục hành tŕnh th́ một gia đ́nh thứ ba cũng vừa đi ngang qua, gồm có hai vợ chồng và một cậu bé lớn hơn Nguyên khoảng hai ba tuổi, nhưng có vẻ ẻo lả yếu đuối. Ba gia đ́nh vừa đi vừa hỏi thăm nhau về cuộc tản cư, những người lớn th́ bàn luận và chia xẻ những kinh nghiệm trong biến cố này và hy vọng t́nh h́nh tại Huế sẽ không đến nỗi nào như người ta đồn đại. Riêng các nhóc t́ th́ quá vui v́ có bạn cùng lứa tuổi trên đoạn đường dài. Chỉ trong chốc lát mà Nguyên, Huyền và Trung, cậu bé "ẻo lả như con gái" đă nói tía lia như quen nhau lâu lắm và nhất là Trung, lúc này cậu cũng hoạt động không kém, đang vui vẻ đùa giỡn bên cạnh hai người bạn mới. Nguyên cũng kể cho hai bạn nghe về chuyện Tây đi lùng tại làng La Chữ, cậu kể chẳng có đầu đuôi chi hết, hai đứa kia hỏi tùm lum, Nguyên trả lời hết ngoại trừ chuyện chiếc quần bị ướt v́ "tai nạn" th́ không được cậu nhắc đến. Cha mẹ Huyền tản cư cách đây hai tháng, về quê mẹ của Huyền tại làng Mỹ Chánh, một làng nhỏ cách quốc lộ Một về phía đông, nằm giữa An Lỗ và Quảng Trị. Tây chưa đi lùng tại làng này nên Huyền không biết chi về những chuyện như Nguyên vừa kể. Huyền có một người em gái tên là Hoa, đang c̣n nhỏ mới ba tuổi mà cha đang bồng trên tay. Cha Trung là một thầy giáo, tên là Phương, cách đây ba tháng, ông phải ngưng dạy học và đưa gia đ́nh, cũng chỉ có ba người như gia đ́nh Nguyên chạy ra trốn tại làng An Ḥa, bị Tây đi lùng hai lần nhưng đều trốn thoát được. Cha mẹ và Trung đă chứng kiến cảnh Tây Lê Dương giết hại dân lành tại đây và tận mắt thấy tụi Tây dă man đánh đập những ông cụ già không chịu chỉ chỗ trốn của thanh niên trong làng. Khi nghe cha kể chuyện này, Trung có vẻ rất ghét Tây, hắn nói khi lớn lên hắn sẽ đi theo mấy anh kháng chiến để đánh đuổi Tây ra khỏi nước Việt Nam. Cha Trung vội vàng la hắn và hăm sẽ đánh đ̣n nếu c̣n nói như thế nữa.
Mẹ Huyền ít nói và có vẻ rất mến mẹ Nguyên. Ông bà này nói cho biết, họ sẽ trở về cái nhà ở sau lưng sông Hàng Bè mà họ đă thuê từ mấy năm nay. Khi biết cha mẹ Nguyên cũng dự trù kiếm một cái nhà để thuê, v́ lần này chỉ về ở tạm tại nhà người anh gần bến đ̣ Cồn, hai ông bà này hứa sẽ giới thiệu cho cha mẹ Nguyên thuê nhà để ở gần gia đ́nh ḿnh. Vừa nói chuyện vừa đi theo đoàn người hồi cư, vào khoảng xế chiều mọi người đă thấy cầu Bạch Hổ ngay phía trước mặt. Tất cả đều thở ra nhẹ nhơm khi đi ngang qua cầu Tràng Tiền về hướng chợ Đông Ba. Quả thật như người ta truyền miệng, t́nh h́nh ở Huế rất yên tỉnh, không thấy bóng dáng lính Tây trên đường, có lẽ tụi nó bị cấm trại ở bên phía hữu ngạn sông Hương, tại Ṭa Khâm và đồn Đập Đá.

Ba gia đ́nh chia tay đi về ba hướng khác nhau, gia đ́nh ông Phương đi về bên kia sông Đông Ba, gia đ́nh của Huyền về phía cầu Thanh Long và cha mẹ Nguyên đi về bến đ̣ Cồn. Ba đứa nhỏ không muốn chia tay nhau, la lối om ṣm sau đó được cha mẹ hứa sẽ cho gặp lại trong một ngày gần đây, chúng nó mới chịu từ giă nhau...