
Rặng Tre Giàcủa Lê bá Thông
Truyền chậm rãi lấy những áo sơ mi, quần dài bạc màu bỏ vào va li vải dày, màu xanh nhạt để trên cái giường tre trãi chiếc chiếu ngả màu. Hành trang của Truyền không có bao nhiêu, chỉ còn lại một chiếc áo len màu nâu cũng đã cũ vắt trên góc chiếc ghế mây. Chiếc áo len của cha Truyền cho lúc anh vừa lớn, đi học lớp bảy ở trường dưới quận, lúc Hoàng đế Bảo Đại vừa tuyên bố nước Việt Nam độc lập, trong khối Liên hiệp Pháp năm 1948 tại Hồng Kông. Chiếc áo len này do chính tay mẹ đan mỗi buổi tối, bên cạnh ngọn đèn dầu phụng, leo lét, chập chờn theo ngọn gió lùa thổi từng cơn từ phía con rạch nhỏ chạy quanh sau vườn nhà. Cánh liếp cửa đã được cha hạ xuống thấp hơn mỗi tối sau khi hoàng hôn tắt nắng. Mặc dù thế nhưng gió vẫn luồng vào mát rượi.
Tiếng cành tre cọ vào nhau kêu kỏe kẹt theo chiều gió nghe thật rõ nhưng vì quen rồi nên không mấy ai để ý. Âm thanh vọng lại như tiếng võng đưa buổi trưa hè và tiếng ru con ngủ của cô Lan, vợ chú Quang bên nhà hàng xóm trước đây. Hai vợ chồng chú Quang đã theo những người khác, dọn nhà lên tỉnh thành sinh sống, cách đây cũng hơn 2 năm rồi. Họ bán căn nhà tranh nhỏ, mảnh vườn đầy rau cải và con trâu mẹ với con nghé cho cha mẹ của Truyền, rồi thu dọn đưa hai đứa con, một trai một gái tám tuổi và sáu tuổi, rời căn nhà và mảnh đất tổ tiên để lại, theo tiếng gọi của phố phường xe cộ thị thành lên dinh sống cuộc đời mới.
Ba mươi năm trước, Truyền còn là chú bé mới biết buồn khi ngồi nhìn mưa rơi rả rích, bong bóng ngập đầy sân. Mưa lớn không cho cậu bé chạy chơi trên đồng cỏ rộng mênh mông, rượt đuổi theo mấy con chim họa mi lông đỏ thắm. Hoặc theo cha vào núi, trong rẩy sắn của gia đình, đặt bẩy bắt những con cu cườm màu xám nhạt.
Truyền nhớ có những lần hai cha con khởi hành từ sáng sớm khi bình minh chưa ló dạng, sao mai còn lóng lánh trên bầu trời về phía đông, nơi đây ánh sáng màu hồng nhạt chỉ mới thấy lờ mờ trên rặng tre già bên con rạch làng. Chim sẻ đã bắt đầu bay lượn khi hai cha con ra đến cánh đồng lúa chín chưa gặt. Ngọn gió ban mai lành lạnh làm Truyền run nhè nhẹ, rồi anh bỏ bàn tay cha, chạy nhanh về phía trước, thỉnh thoảng ngoái đầu nhìn lại, tay vẫy về phía người cha đang nhìn cậu con trai thân yêu với ánh mắt hiền hòa âu yếm.
Lại tiếng kẻo kẹt từ lũy tre xanh như khúc nhạc quê hương buồn muôn thuở muốn nhắc nhở kỷ niệm êm đềm ngày xưa bên người cha với thân thể tráng kiện, nước da màu nâu nhạt, lom khom cấy lúa. Con trâu già đang ăn cỏ trong khi Truyền chạy đùa giỡn cùng chú nghé dọc theo bờ lau rậm rạp dưới ánh nắng hồng những buổi trưa hè cạnh giòng sông cạn. Rồi dĩ vãng êm đềm trở lại trong tâm tư của người trung niên tuổi gần bốn mươi, về chuyến đi đặt bẩy bắt cua đồng cùng cha trong một đêm trăng rằm trên chiếc thuyền nhỏ của gia đình, trên con rạch nhỏ nối liền ngôi làng thân thương với giòng sông bao quanh ruộng lúa chín vàng, mênh mông.
Truyền thường nghe cha nói là cua đồng trong ngày giữa tháng thường nổi lên mặt nước như vui hưởng khuôn mặt óng ánh, sáng vằng vặt của Hằng Nga. Vì thế chỉ cần hai chiếc vợt lưới nhỏ là có vài chục cua đem về nấu canh cua ăn với bún con trong như ngọc do chính tay mẹ tự làm lấy. Cha còn cẩn thận đặt bẩy bắt các cua lớn lười biếng tìm thức ăn dưới đáy sông, không chịu nổi lên. Đây là những chú cua đồng thân hình rất bự, hai càng cứng ngắt, phải dùng sống dao đập thật mạnh bể nát, trước khi thả vào chậu mở nóng để làm món cua rang muối.
Trên đường về lúc bóng nguyệt còn cao trên đỉnh trời, gió mát rượi nhẹ vuốt mái tóc cắt ngắn, Truyền nằm ngửa nhìn bầu trời đầy trăng sao lấp lánh, cố tập trung tư tưởng, nhìn thẳng lên như muốn để tâm trí thám hiểm chiều sâu của vũ trụ muôn trùng. Tầm mắt bị giới hạn bởi màu đen của vòm trời bao phủ tựa một tấm màn nhung vĩ đại, ôm kín vạn vật vào trong vòng tay lớn, thân yêu. Xa xa rặng tre già đóng khung hình chữ nhật với góc cạnh không đều, trên nền trời mờ sáng dưới ánh trăng khuya, hiện ra rõ dần rồi bao trùm chiếc thuyền khi cha con về đến con rạch sau căn nhà nhỏ, tối om. Có lẽ mẹ đang say ngủ trong mộng đẹp.
Hai cha con rón rén nhấc liếp cửa. Truyền đánh lửa thắp sáng ngọn đèn dầu phụng trong khi cha lúi húi nhốt cua vào chiếc giỏ mây. Hai thân hình, một lớn, một nhỏ nhảy múa không cùng một nhịp điệu trên vách tường đất dưới ánh sáng bập bồng từ ngọn lửa nhỏ, le lói theo chiều gió thoảng thổi qua liếp cửa phên.
Đây là lần cuối cùng hai cha con còn nhớ hình ảnh thân yêu của mẹ Truyền vì trong đêm đó, mẹ Truyền đã triền miên trong giấc ngủ ngàn thu, bất ngờ và tan tóc. Bịnh tim của mẹ mà ông lang độc nhất trong làng thường chữa trị và bổ thuốc Bắc gần hai năm nay đã cướp đi niềm thương yêu của cha con Truyền. Đám tang được cử hành thật đơn giản, mẹ Truyền an nghỉ trong mộ phần do hai cha con xây cất sau vườn nhà, chung quanh trồng đầy hoa cúc trắng mà mẹ thường thích hái cặm vào lọ bông. Mấy chú cua đồng là món ăn dọn trong buổi cơm mời khách đến đưa đám nhưng chỉ ăn với cơm gạo lức thay vì với sợi bún trong như ngọc của mẹ.
Suốt thời gian ba mươi năm qua, Truyền không còn thích thú đi bắt cua đồng nữa. Anh sợ buồn vì nghĩ đến người từ mẫu đã xa lìa đứa con trai độc nhất vừa tròn mười mấy tuổi đời.
Chiếc áo len, kỷ vật mẹ đan cho cha, đã sưởi ấm, không những thân hình to cao so với các đứa bé khác trong làng, mà còn ấm cả tâm tư người con trai lớn dần theo thời gian bên cạnh phụ thân ngày càng buồn phiền, chán nản vì thiếu bóng vợ hiền. Cha không còn đi vào núi gài bẩy bắt cu cườm nữa và công việc đồng áng thì đã giao lại cho một người bạn mà cha nhờ lo cày cấy, gặt lúa rồi chia cho hai gia đình.
Con nghé lớn lên đã bán cho một nông dân khác, khi trâu mẹ cũng theo bà chủ về thế giới bên kia sau ngày đám táng mẹ vài năm. Suốt ngày cha tìm quên bên bầu rượu, thưởng thức men rượu nếp do chính tay cha tự nấu lấy, lảm nhãm nhắc lại giây phút vui sống bên cạnh người vợ hiền, trong giấc ngủ hàng đêm.
Rồi khi chiến tranh lan tràn đến ruộng vườn và thường xuyên mọi người nghe thấy phi cơ cánh quạt bay ngang qua rặng tre già, làm tung bay mấy cụm rơm khô trên sân đất nện, trước căn nhà, với tiếng động cơ ầm ĩ làm chó sủa vang trong đêm trường, cha đã theo mẹ Truyền, không một lời trăn trối.
Gió từ rặng tre già thổi vi vu như những lần Truyền thả bộ dọc theo con rạch nước chảy lờ đờ, đục ngầu màu nâu. Anh thường đi hái đọt măng non vừa mọc dưới cụm tre, cắt đọt măng tươi từ lóng cây tre có thân hình cứng rắn, với cây dao nhỏ, món quà cha thưởng cho Truyền vào một ngày Tết âm lịch. Truyền thường lột từng vỏ măng có những sợi tơ nhỏ mềm cho đến khi đọt măng chỉ còn lại phần mềm nhũn ở giữa, ăn thật ngọt như trái cây sau vườn nhà.
Lá tre thay đổi theo mùa, khi trở thành vàng úa, lá rụng xuống đất làm thành tấm thảm mềm che phủ rể tre như là vật trang điểm rặng tre già. Đối với Truyền, rặng tre già bao quanh nhà của anh tượng trưng cho những gì quí giá còn lại trong cuộc đời. Nó là biểu hiệu của sợi dây liên hệ vô hình giữa những người thân đã khuất núi và cá nhân Truyền. Cứ mỗi lần ngồi lặng ngắm lũy tre xanh, trong buổi chiều nhạt nắng hay vào những ngày cuối thu, tai nghe tiếng kẻo kẹt thân yêu quen thuộc là mỗi lần tâm tư Truyền thổn thức, say sưa nhớ lại kỷ niệm êm đềm bên từ mẫu thương mến, đến chuyến đi câu, những lần vào núi bẩy chim cu cườm với người cha hiền hòa, tháo vát.
Thế rồi Truyền cảm thấy đau buồn khi nhìn thấy một phần rặng tre đầu làng tan tành dưới các quả đạn rơi xuống từ thinh không, nổ bùng và tạo thành đám cháy, bụi mù tung bay khắp bầu trời xanh dưới ánh nắng chói chang của một ngày hè đỏ lửa. Chiến tranh thật sự đã tiến đến gần thôn làng yêu quí của Truyền. Rồi trong những năm tháng kế tiếp, rặng tre già càng ngày càng nhỏ lại vì bom đạn vô tình. Vài cụm tre trước mặt ngôi nhà thân yêu với tường đất lỗ chỗ dấu đạn mọt chê, vẫn còn tạo nên tiếng kêu kẻo kẹt, nhưng Truyền nghe nhỏ hơn trước, khi ngọn gió ban mai từ ruộng lúa bỏ hoang thổi vào hướng làng.
Nhiều gia đình dân quê quen biết, bà con thân thuộc đã rủ nhau đi xa khỏi nơi chôn nhau cắt rún của họ. Chỉ có vài ông bà già, quyến luyến mảnh đất, mộ phần tổ tiên nên ở lại. Đã nhiều lần Truyền cũng muốn làm như mọi người, rời bỏ rặng tre già, nhưng rồi cứ chần chờ vì lòng thương tiếc những gì còn lại của đời mình, Truyền quyết định ráng chờ càng lâu càng tốt.
Truyền đã quá quen thuộc với những sinh hoạt hàng ngày từ ngày còn bé, đến khi cha mẹ qua đời và nhất là sau khi bình phục từ cơn sốt tê liệt cách đây vài năm trước khi chiến tranh lan tràn đến vùng đất yêu quí của anh. Trong thời gian bị đau ốm, Truyền được một người bà con ở bên cạnh, nuôi giúp khi chân trái của Truyền trở nên bất khiển dụng, hậu quả của căn bệnh không lành hẳn. Sau một thời gian, khi Truyền đã tập tành và quen thuộc việc xử dụng chiếc nạng bằng gỗ để hoạt động và di chuyển, anh sống tự lập một mình và suốt ngày tập tễnh lo việc vườn tược, trồng rau cải, nuôi gà vịt như thường lệ.
Cách đây không lâu, trong một buổi trưa nhiều mây báo hiệu cơn giông đầu mùa vào buổi chiều, trên không trung, Truyền nghe tiếng động cơ máy bay trực thăng ầm ĩ bay ngang qua căn nhà ngói và khóm tre già. Thế rồi những bụi phấn rơi xuống nhiều từ không trung mang mùi thật nồng nặc, bay theo gió cuốn về hướng núi rừng sầm uất, nơi mà trước đây, cha con Truyền thường vào tận trong đó để đặt bẩy cu cườm.
Chỉ một tuần lễ sau, như là một bệnh dịch từ trên trời giáng xuống trần gian, rặng tre già trở nên vàng úa, lá rơi rụng trong gió thoảng ban mai, tả tơi trên đám cỏ màu vàng đậm. Vườn rau cải của Truyền cũng cùng chung số phận, cứ tàn úa, héo dần như thiếu đất nước bồi dưỡng, mặc dù Truyền vẫn chăm sóc và tưới nước mỗi buổi sáng sớm, khi mặt trời chưa lên. Cơ thể của Truyền cũng thấy như đổi khác, có lẽ vì khí hậu không còn điều hòa như trước nữa. Nỗi lo âu càng tăng dần khi anh nhìn thấy lá cây rừng bắt đầu đổi màu nâu nhạt. Anh biết rằng bây giờ chỉ mới vào hạ, mùa thu còn chờ đến gần ba tháng nữa mới đến.
Những người láng giềng bàn tán về đám khói mù lảng vảng bay nhẹ trên cụm cây già ven rừng hôm ấy. Họ thắc mắc về chất hóa học dùng để khai quang rừng rú của Quân đội Đồng minh đang chiến đấu bên cạnh các Lực lượng chính phủ. Truyền không biết rõ lắm về bản chất và hậu quả của loại thuốc này. Tuy nhiên sự kiện hoa lá đổi màu trong màu hè, thêm vào đó rặng tre già trở thành trơ trụi và không còn lá xanh trên cành, trông giống như những cánh tay khẳng khiu của các ông bà già, đang chờ ngày trở về với tổ tiên, làm cho anh đi đến ý định thu xếp hành trang, lìa bỏ quê hương, nơi có lũy tre xanh với tiếng kêu kẻo kẹt trong gió sớm ngày nào.
Mặc dù âm thanh thật yếu ớt, nhưng bây giờ, vào thời điểm anh sắp từ giã ra đi, Truyền vẫn nghe rất rõ vì không như những lúc trước, lần này anh cố gắng giữ mãi trong tâm tư và in sâu vào ký ức của mình, khúc nhạc buồn quê hương thân ái của rặng tre già mà anh phải xa lìa.
|