DẦU HỎA: VŨ KHÍ CHÍNH TRỊ HAY KINH TẾ

 

                                                  ĐẠI-DƯƠNG

 

 

Trong thời đại công nghiệp, mọi loại sản phẩm đều lệ thuộc vào dầu hỏa. Có thể nói dầu hỏa là huyết mạch của nền kinh tế toàn cầu.

 

Nhà địa chất Dale Allen Pfeiffer viết trong cuốn Eating Fossil Fuels “Để tạo ra 1 calorie thực phẩm tại Mỹ cần dùng tới 10 calories của kỹ nghệ hóa dầu như phân bón, hóa chất nông trang, nông cụ, dụng cụ bảo quản và chuyên chở”. Chế tạo một chiếc xe hơi nhỏ cũng cần lượng dầu hỏa nặng gấp đôi trọng lượng của nó.

 

Theo American Chemical Society th́ muốn tạo ra 1 gram microchips phải sử dụng 630 grams dầu thô; chế tạo một máy vi tính để bàn thông dụng cần tới 10 lần trọng lượng dầu thô. Ngay cả việc khai thác năng lượng mặt trời, gíó, khí hyro, nguyên tử cũng phải cần đến các sản phẩm từ kỹ nghệ hóa dầu.

 

       T́nh h́nh trữ lượng dầu thô trên thế giới năm 2004

 

Trên thế giới có 44 quốc gia sản xuất dầu thô. Vào năm 2005, Cuba phát hiện mỏ dầu thô với trữ lượng 4.6 tỉ thùng nâng tổng số toàn thế giới lên thành 1,154 tỉ thùng. Trong đó, Tổ chức Các Quốc gia Sản xuất Dầu hỏa có 11 thành viên chiếm 78% và các nước khác sở hữu 22% trữ lượng dầu thô toàn thế giới.

 

Nỗi lo ngại về “Thời đại Đồ đá Hậu-Kỹ nghệ” đă xuất hiện trước viễn ảnh trữ lượng dầu thô (light oil, conventional oil) trên thế giới có thể cạn kiệt vào năm 2030. Ảnh hưởng thực tế đă bắt đầu khi số lượng khai thác dầu thô lên tới đỉnh vào thập niên 1970 tại Hoa Kỳ, 1987 tại Liên Xô, 1999 tại Anh Cát Lợi và 1997 tại Trung Đông, ngoại trừ Á Rập Saudi. Nh́n chung, mức sản xuất dầu thô trên toàn thế giới đă tột cùng vào năm 2000 và đang trên đà tuột dốc.

 

Gần 99% lượng dầu thô trên thế giới xuất xứ từ 44 quốc gia mà 24 nước đă vượt điểm đỉnh. Nếu thiếu 15% lượng dầu thô cung cấp th́ nền kỹ nghệ trên thế giới có nguy cơ sụp đổ tạo ra cảnh thất nghiệp hàng loạt có thể dẫn tới bất ổn. Khi giá dầu thô vượt quá 100USD/ thùng có thể bùng nổ chiến tranh giữa các cường quốc công nghiệp.

 

Thập niên 1960, nhân loại tiêu thụ 6 tỉ thùng dầu thô/năm mà lại ḍ t́m được 60 tỉ thùng so với 30 và 4 của năm 2004. Các chuyên gia quốc tế nói lượng dầu thô giảm 10% mỗi  năm, và 2005 là thời điểm cuối cùng của giá rẻ, và đến 2007 không thể hàn gắn được mức cung cầu. Thời kỳ đen tối có thể khởi diễn từ 2008-2012. Năm 2003, mười (10) nhóm thăm ḍ đă chi 8 tỉ mỹ kim, nhưng chỉ t́m thấy số dầu thô trị giá ít hơn 4 tỉ.

 

Nhu cầu công nghiệp hóa của Trung Quốc và Ấn Độ với dân số hơn 2 tỉ người làm gia tăng số lượng dầu thô tiêu thụ trên thế giới. Vào năm 1994, Trung Quốc tiêu thụ khoảng 5% xăng dầu so với thế giới từ nguồn dầu thô trong nước. Trung Quốc đứng sau Mỹ, Nhật, Nga với mức tiêu thụ 3 triệu thùng/ngày, tương đương với 1/5 của Hoa Kỳ. Từ năm 2003, Trung Quốc nhảy lên hạng nh́ với mức tiêu thụ 6 triệu thùng/ngày bằng 1/3 Hoa Kỳ nên phải nhập cảng đến phân nữa dầu thô. Bộ Năng lượng Mỹ cho biết Trung Quốc sẽ tiêu thụ 12 triệu thùng/ ngày vào năm 2020 so với 16 triệu của Mỹ.

 

Sản lượng dầu thô trên thế giới hiện nay vào khoảng 84 triệu thùng/ngày không có cách nào đạt tới 112 triệu thùng cho nhu cầu nhân loại vào năm 2020.

 

                   Đua nhau t́m dầu

 

Do đó, quốc tế không thể dựa hoàn toàn vào loại “vàng đen” đang xuống dốc nên phải cấp tốc t́m những loại nguyên liệu thay thế từ hóa học, nguyên tử và thiên nhiên. Nhưng, công cuộc t́m kiếm dầu thô vẫn c̣n ưu tiên số 1 trong cuộc đua đường dài.

 

Một bản tính toán tổng quát trữ lượng các loại dầu hỏa trên thế giới cho biết: dầu nhẹ có 952 tỉ thùng; dầu cát và dầu nham thạch 651 tỉ thùng; dầu nặng 434 tỉ thùng.

 

Khả năng khám phá các giếng dầu qui ước đă giảm nên các loại dầu dưới dạng hắc ín (tart, extra heavy oil) hoặc dầu cát (oil sand) hoặc dầu nham thạch (oil shale) lại lên ngôi sau thời gian dài bị quên lăng do khó khăn về chế biến và kém hiệu quả kinh tế.

 

Gia Nă Đại chiếm 85% lượng “dầu cát-oil sand” trên thế giới. Dầu cát Athabasca ở Đông-Bắc Gia Nă Đại trăi rộng 150,000 km2 có trữ lượng 2,500 tỉ thùng dầu thô mà năm 2005 đă khai thác 174 tỉ thùng chiếm 50% tổng sản lượng dầu hỏa của Gia Nă Đại. Việc khai thác được khởi động từ năm 1967, nhưng do giá dầu thô dưới 20 USD nên không có hiệu quả kinh tế. Chỉ tái hoạt động mạnh vào năm 2003, và năm 2005 đă sản xuất 1 triệu thùng/ngày. Dự trù sản lượng tăng lên 4 triệu thùng/ngày vào năm 2020.

 

Dầu cát hiện được khai thác bằng cơ giới rồi chuyên chở về nhà máy sơ chế thành dầu thô nên kém hiệu quả kinh tế. Các công ty khai thác đang thử nghiệm phương pháp “in-stu” nhằm bơm khí nóng vào hầm làm cho bitumen lỏng ra để được hút lên như các giếng dầu qui ước sẽ đem lại hiệu quả kinh tế hơn. Phương pháp “in-stu” c̣n có thể tạo ra khí đốt trong quá tŕnh khai thác dầu cát.

Orinoco ở miền Đông Venezuela có trữ lượng 1,200 tỉ thùng dầu nặng (extra heavy oil) có thể khai thác suốt thế kỷ 21. Venezuela tuyên bố vùng Orinoco chứa 235 tỉ thùng dầu thô cộng thêm 78 tỉ thùng dầu qui ước nên qua mặt trữ lượng của Á Rập Saudi. Hiện tại, Venezuela có 4 dự án khai thác ở Orinoco sản xuất 500,000 thùng/ ngày. Venezuela hy vọng gia tăng sản lượng dầu hỏa lên 5 triệu thùng /ngày vào cuối thập niên này cùng với khoảng 1 triệu thùng từ khu Orinoco. Venezuela tuyên bố hôm 26-04-06 sẽ đầu tư 200 tỉ mỹ kim cho khu vực Orinoco để khai thác 3 triệu thùng dầu thô/ngày so với 600,000 thùng hiện nay.

 

Cơ quan Naval Petroleum and Oil Shale của Hoa Kỳ ước lượng “dầu nham thạch-oil shale” trên thế giới có khoảng 1.6 ức (trillion) thùng dầu thô mà Mỹ chiếm 1.2 ức, tương đương với trữ lượng dầu lửa c̣n lại trên hành tinh của chúng ta.

Việc khai thác dầu nham thạch bằng phương pháp cơ học ở Estonia, Nga, Ba Tây, Trung Quốc đang suy thoái do các yếu tố kinh tế và môi trường. Nham thạch được chuyên chở về nhà máy rồi nung lên 500 độ C với hydrogen để tách dầu ra khỏi đá.

 

Công ty Shell đang thử nghiệm phương pháp “in-stu” ở Denver, Hoa Kỳ. Nham thạch bị đập nát và đun nóng bằng điện trong ṿng 4 năm dưới ḷng đất sẽ từ từ chuyển thành dầu và khí mới được bơm lên. Phương pháp này sẽ thu được nhiều dầu hơn kiểu cơ giới. Hiện nay, hoạt động sản xuất dầu nham thạch tại Hoa Kỳ chưa được nối lại sau Thế chiến II.

 

Năm 2005, Royal Dutch Shell tuyên bố kỹ thuật in-stu có thể cạnh tranh khi giá dầu trên mức 30USD/thùng và phải mất 1 thùng dầu thô mới đem về 3 thùng so sánh với 20 và 100 khi khai thác dầu qui ước (conventional oil).

 

Các phương pháp khai thác dầu nham thạch hiện nay gây tác hại nghiêm trọng cho môi trường, đặc biệt tạo “hiện tượng nhà kính-greenhouse gas” gấp 4 lần so với dầu qui ước.

 

Một số người tỏ vẻ bi quan, như kinh tế gia kiêm giáo sư James Haminton, với viễn ảnh dầu nham thạch v́ phải mất 12 năm mới đi vào sản xuất và 15 năm để xây dựng nhà máy lọc. Tối thiểu phải đến năm 2015 mới khởi động và đến 2030 sản xuất được 5 triệu thùng/ngày so với nhu cầu 112 triệu cho toàn thế giới.

 

Tháng 2-05, Sở Thăm ḍ Địa chất của Mỹ đă công bố phúc tŕnh “một mỏ dầu nằm phía Bắc Lưu vực Cuba có trữ lượng khoảng 4.6 tỉ thùng dầu thô, hoặc 9.3 tỉ so với 10 tỉ của vùng Hoang dă Alaska. Trung Quốc và một số quốc gia Liên Âu đă kư hợp đồng khai thác.

 

           Dầu hỏa và chính trị

 

Cơn chấn động dầu thô trên thế giới trước đây mang màu sắc chính trị. Năm 1973, Tổ chức Các nước Sản xuất Dầu hỏa, OPEC đă giảm mức khai thác để phản đối Mỹ ủng hộ Israel. Năm 1979, Iran cắt giảm dầu thô để đánh què tên “Đại Quỷ” Hoa Kỳ. Cả hai trường hợp, Hoa Thịnh Đốn đă nhờ vào các nước sản xuất khác như Venezuela để làm nhẹ cơn khủng hoảng.

 

Ngày 24-04-06, Tổng thống Hugo Chavez quốc hữu hóa ngành dầu khí Venezuela làm đảo ngược công cuộc tư nhân hóa ở thập niên 1990. Chavez tăng thuế từ từ vào các nhà sản xuất ngoại quốc và buộc phải liên doanh với các công ty của Chính phủ Caracas trong đó phía Venezuala giữ 51% cổ phần. V́ nhu cầu dầu thô nên các công ty ngoại quốc buộc phải chấp nhận các điều kiện của vị Tổng thống thiên tả này.

 

Tháng 7-05, Trung Quốc đề nghị mua công ty dầu hỏa Unocal, nhưng bị Hoa Kỳ từ chối do mưu đồ khống chế thị trường “vàng đen” của Bắc Kinh.

 

 

Năm 2005, Cuba xác định có mỏ dầu hỏa chỉ cách Florida khoảng 50 dặm nên Thượng nghị sĩ Larry Craig đă nêu lên nguy cơ đối với Thềm lục địa Hoa Kỳ và Vùng Đặc quyền Kinh tế khi Havana cho phép Trung Quốc, Gia Nă Đại, Ba Tây, Pháp, Tây Ban Nha khai thác c̣n các công ty Mỹ bị đứng ngoài. Cuba đă thỏa thuận cho Trung Quốc khai thác và tái tạo lại nhà máy lọc dầu trên đất Cuba do Liên Xô xây cất trước kia. Craig yêu cầu chính phủ cho phép các công ty Mỹ tham gia vào tiến tŕnh này.

 

Ngày 02-05-06, hai Tổng thống thiên tả của Venezuela và Bolivia đă kư Thỏa ước Mậu dịch và Hợp tác với Cuba nhằm chống lại Thỏa ước Mậu dịch Tự do được Mỹ hỗ trợ. Chavez sẽ cung ứng dầu hỏa cho Bolivia và một ngân khoản phát triển 100 triệu mỹ kim cùng với 30 triệu cho các dự án xă hội. Havana sẽ trợ giúp về y tế và xóa nạn mù chữ cho Bolivia. Venezuela là quốc gia sản xuất dầu nhẹ đứng hàng thứ ba trong OPEC và Cuba mới t́m thấy dầu hỏa sẽ có tài nguyên khuấy động vùng Châu Mỹ La Tinh. Thời chiến tranh lạnh, các thủ lănh thiên tả phải nhận viện trợ của Cộng sản Quốc tế để gây khuynh đảo trong vùng. Hiện tại, họ khai thác tài nguyên dầu để thực hiện các kế hoạch mở rộng hoạt động chống chủ nghĩa tư bản.

 

Kể từ năm 1993, Trung Quốc bắt đầu nhập cảng dầu hỏa với số lượng ngày càng tăng theo nhịp độ phát triển kinh tế nên áp dụng chiến thuật “kinh tế trên chính trị” để thâm nhập vào bất cứ nơi nào có nguồn “vàng đen”.

 

Tại Á Châu, Trung Quốc tranh chấp chủ quyền các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa với các quốc gia Đông Nam Á. Năm 2005, Trung Quốc, Việt Nam, Phi Luật Tân đă kư thỏa ước hợp tác nghiên cứu và t́m kiếm tài nguyên trong vùng biển Trường Sa. Tranh chấp giữa Trung Quốc, Nhật Bản, Đại Hàn về chủ quyền đảo Điếu Ngư ngày càng căng thẳng liên quan đến dầu hỏa. Bắc Kinh yễm trợ Miến Điện để có ưu thế khai thác tiềm năng dầu hỏa trên quốc gia bị lên án nặng nề nhất về vi phạm nhân quyền.

 

Tại Trung Á, Trung Quốc liên doanh với Kazakhstan để khai thác trữ lượng 35 tỉ thùng dầu thô; xây dựng đường ống dẫn dầu Sino-Kazakh vào năm 2004. Trung Quốc cũng xây dựng đường ống dẫn dầu dài 2,400 km nối vùng Siberia, Nga; và kư hợp đồng mua dầu Iran trị giá 70 tỉ mỹ kim. Do đó, Bắc Kinh nhiệt liệt ủng hộ các quyết định của Teheran trên trường quốc tế.

 

Tại Châu Phi, các quốc gia Âu Mỹ rất khắc khe về chính trị, môi trường đối với các nhà cầm quyền ở khu vực này nên Trung Quốc nhảy vào khai thác. Sau khi Hoa Kỳ cắt đứt quan hệ vào năm 1995 th́ Sudan bán 60% sản lượng dầu thô khai thác làm thỏa măn 12% nhu cầu tiêu thụ của Trung Quốc. Năm 1995, công ty Petroleum Corporation (CNPC) của Trung Quốc giành được quyền khoan các mỏ dầu tại Sudan. Trung Quốc cũng đang bơm dầu từ Angola, Nigeria, Congo, Algeria. Chiến lược dầu hỏa của Bắc Kinh có thể gây khó khăn trong việc cam kết tỉ lệ cung cấp dầu thô của các nhà sản xuất cho những nước khác.

 

Trong chuyến viếng thăm một số quốc gia Châu Mỹ La Tinh mới đây, Chủ tịch Hồ Cẩm Đào cam kết sẽ đầu tư 100 tỉ mỹ kim trong ṿng 10 năm tới. Dĩ nhiên, vấn đề cung cấp dầu hỏa cho Trung Quốc vẫn chiếm vị trí ưu tiên. Tháng 7-05, tập đoàn Brazil Petrobras kư hợp đồng cung cấp 12 triệu thùng dầu thô trị giá 600 triệu mỹ kim cho Trung Quốc.

 

Bản Phúc tŕnh 2005 của Ngũ Giác Đài viết “Khi nhu cầu năng lượng và nguyên liệu gia tăng, Bắc Kinh cần các quan hệ ngoại giao và kinh tế đặc biệt với Trung Đông, Châu Phi,  Châu Mỹ La Tinh nên xích gần các quốc gia có vấn đề như Iran, Sudan, Venezuela”.

 

Cuộc tranh căi về năng lượng nguyên tử giữa Iran và Tây Phương tiếp tục căng thẳng khơi dậy viễn cảnh Teheran có thể ngưng cung cấp dầu thô cho thế giới mặc dù Tổng thống Mahmoud Ahmadinejad hứa sẽ không làm gián đoạn việc cung ứng.

 

Từ khi Vladimir Putin đắc cử Tổng thống Nga th́ tập đoàn Gazprom, lớn vào hàng thứ 5 trên thế giới, dính liền với các quyết định chính trị của Điện Cẩm Linh. Nga đang muốn các nước khác phải lệ thuộc Điện Cẩm Linh nhờ vũ khí dầu hỏa.

 

Nga sử dụng dầu hỏa như chiếc dùi cui trong vụ tranh căi về giá khí đốt với Ukraine cũng như các láng giềng. Tổng Giám đốc Aleksei B. Miller mới đây cảnh cáo Liên Âu chớ ngăn cản sự bành trướng của Gazprom tại lục địa này nếu không Nga sẽ bán cho nơi khác. Mạc Tư Khoa bảo đảm quyền bất khả xâm phạm cho Tổng thống Islam Karimovov để Uzbekistan giành cho Nga quyền kiểm soát các mỏ hơi đốt và công nghiệp khai thác. Các phương tiện vận chuyển và trung chuyển dầu tại Kazakhstan được chuyển giao cho Gazprom. Như thế, Gazprom nắm quyền kiểm soát nguồn cung cấp hơi đốt của vùng Trung Á và theo dơi những khách hàng.

 

Nga là quốc gia ngoài OPEC sản xuất nhiều dầu hỏa nhất. Nga đang cung cấp 1/4 lượng khí đốt cho Châu Âu và sản xuất 1/9 lượng dầu thô trên thế giới. Nga bắt đầu cung cấp 600 ngàn thùng dầu/ngày ở giai đoạn đầu cho Trung Quốc, Nhật Bản, Đại Hàn và sẽ tăng lên 1,6 triệu thùng/ngày vào giai đoạn 2.

 

                         Viễn ảnh dầu hỏa trên thế giới

 

Sự thiếu hụt dầu trên thế giới đă trở thành một vấn nạn buộc quốc tế chung lưng giải quyết theo các hướng như đầu tư ḍ t́m và khai thác; t́m thêm các nguồn năng lượng thay thế; giảm tỉ lệ tiêu thụ nhiên liệu trong sản xuất; bảo vệ môi trường.

 

Tại Diễn đàn Năng lượng Quốc tế lần thứ 10 ở Qatar hôm 23-04-06, OPEC cho rằng dầu nhẹ sẽ tiếp tục đáp ứng 90% nhu cầu năng lượng thương mại của thế giới. Các quốc gia đang phát triển sẽ tiêu thụ gấp đôi, nhưng cũng chỉ bằng 1/5 lượng tiêu thụ tính theo đầu người tại các nước giàu, OECD. Từ nay đến năm 2020, OPEC sẽ đầu tư 240 tỉ mỹ kim t́m kiếm và khai thác dầu thô.

 

Cộng ḥa Liên bang Nga dẫn đầu trữ lượng dầu khí ngoài OPEC cũng t́m được thêm nhiều mỏ dầu ở Tây Bá Lợi Á và quần đảo Sakhalin.

 

Gia Nă Đại, Hoa Kỳ, Venezuela cũng đầu tư khai thác các loại dầu thô phi qui ước.

 

Sở Thống kê Địa chất Hoa Kỳ ước tính trữ lượng dầu thô hiện nay lên tới 3,300 tỉ thùng bao gồm các loại so với 1,700 tỉ thùng theo ước tính đầu thập niên 1980.

 

Các quốc gia đang phát triển cần cải thiện qui tŕnh sản xuất để giảm tỉ lệ tiêu thụ nhiên liệu sẽ làm giảm bớt t́nh trạng thiếu hụt dầu thô gay gắt.

 

Vào năm 2012, máy phát điện nguyên tử thế hệ thứ tư sẽ hoàn tất có thể được nhiều quốc gia sử dụng an toàn khi cung cấp điện năng.

 

Các quốc gia trên thế giới đang chuẩn bị họp mặt để bàn các biện pháp tiêu thụ, tồn trữ dầu hỏa hợp lư để không gây khủng hoảng làm thiệt hại đến mức phát triển chung của thế giới.

 

Như thế, trên phương diện kinh tế, khả năng gây khủng hoảng dầu hỏa có thể dàn xếp được hoặc làm giảm nhẹ.

 

Tuy nhiên, nếu các quốc gia trên thế giới cố t́nh sử dụng vũ khí dầu hỏa để đạt mục đích chính trị th́ khả năng khủng hoảng dễ bùng nổ và lan rộng toàn cầu. Bắc Kinh và Mạc Tư Khoa đang theo đuổi chủ trương trao đổi chính trị hoặc vũ khí với các quốc gia có dầu thô là một xu hướng đáng quan tâm. Một số quốc gia Châu Mỹ La Tinh đang muốn dùng dầu hỏa để phát triển và bành trướng ảnh hưởng, thế lực trong vùng.

 

Nếu có cuộc khủng hoảng dầu hỏa bùng nổ trên thế giới th́ chỉ xuất phát từ động cơ chính trị nên nhiều quốc gia đang có xu hướng t́m cách độc lập với “vàng đen”.

 

 

                                                                               ĐẠI-DƯƠNG