Nguyễn Ngọc

Truyện








VƯỜN ƯƠM MỘNG VIỄN DU


Nguyễn Ngọc



Nắng hè chói chang rực rở trên thành phố Nha Trang. Bầu trời cao vút không gợn áng mây như muốn ôm ấp làn nước trong xanh. Sóng vổ nhè nhẹ lên bờ cát trắng phau phau. Gió biển vuốt ve hàng thùy dương sừng sững dưới nắng hè tạo nên bản nhạc th́ thầm mời gọi. Cơn gió nồm mang hơi mát từ biển cả như muốn xoa dịu nỗi bồn chồn của các chàng thư sinh đang xuôi về phía Nam thành phố Nha Trang. Họ đang t́m đường dệt mộng viễn du.

Mùa hè 1960, kẻ trước người sau, năm mươi ba chàng trai từ mọi nẻo đường đất nước qua đợt tuyển chọn văn hóa và thể lực đă lần lượt tề tựu về Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang để khởi đầu nếp sống hải hồ.

Khoảng 4 cây số phía Nam thành phố Nha Trang trên đường hướng về Chụt và Cầu Đá, du khách có thể nh́n thấy những dăy nhà dài màu trắng thấp thoáng sau hàng thùy dương trong khuôn viên “dành riêng cho đàn ông”. Đó là Trung Tâm Huấn Luyện Hải Nha Trang, nơi ôm ấp cả Trường Sĩ Quan Hải Quân Việt Nam Cộng Ḥa.

Sự lớn mạnh về lượng và phẩm của Hải Quân Việt Nam Cộng Ḥa đă thu hút giấc mộng viễn du của tuổi trẻ. Lănh hải Việt Nam chạy suốt từ Bắc chí Nam đ̣i hỏi được bảo vệ hữu hiệu bằng kiến thức hải nghiệp tân tiến, bằng ư chí quyết chiến, quyết thắng của những bầu máu nóng Việt Nam. Mặt tiền của quê hương nh́n ra biển cả thôi thúc trí tuệ người Việt t́m cách khai thác tài nguyên thềm lục địa, tiềm năng hàng hải - một trong những lợi thế của tổ tiên từ thời lập quốc. Trường Sĩ Quan Hải Quân là nơi ươm trồng mầm mống hải hồ và tinh thần tự chủ dân tộc.

Chiến sự leo thang. Tiếng súng từ ruộng đồng vọng về; những tin đồn liên quan đến hoạt động khủng bố, phá hoại của Cộng sản khiến cho những bạch diện thư sinh không thể tiếp tục mài đủng quần nơi ghế học đường với chữ nghĩa thánh hiền. Bao nhiêu chàng trai đă giả từ chốn phồn hoa đô hội để thi hành nghĩa vụ thanh niên đối với quốc gia, dân tộc.

Họ vốn thuộc lớp thanh niên chịu nhiều thiệt tḥi về học vấn trong thời kháng chiến do tản cư, v́ tâm lư bất ổn. Đ́nh chiến năm 1954, ḥa b́nh tạm thời tái lập. Họ vội vă, đốt thời gian, dồn sinh lực để trau giồi kiến thức. Học, học và học. Kiến thức là ch́a khóa mở tung cánh cửa tương lai cho bản thân và dân tộc. Tuy nhiên, họ ư thức rơ ràng về nhu cầu tự do dân chủ, về tinh thần tự chủ và trách nhiệm của thanh niên đối với tổ quốc, dân tộc. Bút nghiêng đành xếp lại. T́nh riêng cũng gác sang bên.

Khác biệt về xuất xứ, cách xa v́ địa phương nhưng năm mươi ba thanh niên lại cùng chung hoài bảo. Họ tề tựu về miền Nha Trang cát trắng để trở thành Sinh viên Sĩ quan Khóa 10, Đệ Nhất Nam Dương, đánh dấu một bước chuyển ḿnh trong phương thức đào tạo sĩ quan của Hải Quân Việt Nam Cộng Ḥa.

Theo ḍng lịch sử cận đại, quân nhân Hải Quân Việt Nam Cộng Ḥa được đào tạo và nuôi dưỡng theo truyền thống của Hải Quân Pháp. Thời thế đổi thay đ̣i hỏi phương pháp đào tạo mới cho phù hợp với hiện t́nh đất nước. Khóa 10 sĩ quan Hải Quân Nha Trang là khởi điểm và thí nghiệm cho phương pháp canh tân.

Đệ Nhất Nam Dương ở vị trí giao thời với những đặc điểm khác biệt. Trước hết là tuyển mộ thanh niên có tŕnh độ tương đương đại học, ngoại trừ một vài trường hợp cá biệt. Kiến thức tương đồng giúp cho công tác huấn luyện dễ dàng, nhanh chóng và tạo được sự thông cảm giữa bạn đồng khoa. Thứ đến là tinh thần yêu nước nồng nàn và trách nhiệm đối với hải nghiệp đă thể hiện suốt chiều dài công tác. Chưa có ai trong khóa 10 bị ghi nhận đă có hành vi phản bội quê hương, dân tộc hoặc bị trừng phạt nghiêm trọng về hải nghiệp. Hải quân Thiếu úy Nguyễn Ngọc Khải mất tích v́ công vụ. Hải quân Đại úy Nguyễn Đức Bổng, Hải quân Đại úy Lưu Phú Thọ hy sinh v́ tổ quốc. Sau cùng là phương pháp huấn luyện phối hợp giữa quan niệm, truyền thống của Hải quân Pháp và Mỹ. Tuy nhiên, dấu ấn của Hải quân Pháp vẫn sâu đậm hơn bởi v́ Sĩ quan và Hạ sĩ quan huấn luyện viên đều xuất thân từ hệ thống đào tạo của Hải quân Pháp.

Tổng số 53 khóa sinh rơi rớt dần qua các kỳ sát hạch. Chỉ c̣n 37 người tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy Hải quân khóa Đệ Nhất Nam Dương.

Cầu vai đen chần x́ của giai đoạn I khiến lắm chàng sinh viên mới nhập trường ái ngại khi đi diễu phố và bị chất vấn. Nhất là những câu hỏi nhẹ nhàng kèm theo âm điệu ngây thơ thoát ra từ đôi môi nhuốm màu san hô của kiều nữ Nha thành “Anh là lính ǵ vậy?”. Danh hiệu “Sinh viên Sĩ quan tàu ngầm” đă xuất hiện từ bấy nhưng chẳng biết do ai sáng tác mặc dù Quân chủng Hải quân Việt Nam chưa có tàu ngầm.

Thời kỳ mang Alpha coi bộ non nớt và yếu thế v́ lúc nào cũng có các “Bố” ở trên đầu để mà giám sát, dạy dỗ. Cầu vai vàng chói được phụ họa thêm bằng sợi vàng trên mũ làm cho các chàng sáng chói vẻ hào hoa và cũng che bớt những nét sạm nắng quân trường. Nét rắn rỏi từ các chuyến thực tập hải hành cũng không xóa hết dáng dấp thư sinh h́nh như muốn chọc vào mắt xanh của kiều nữ Nha thành.

Thời kỳ mang cầu vai chuẩn úy, tuy chưa “cắt chỉ” nhưng đă le lói lắm rồi nhờ bộ cánh Sĩ quan thực thụ và vai tṛ làm “Bố”. Từ đây ngoài việc chuyên cần học tập cho giai đoạn chót th́ mỗi chàng lại ấp ủ quan lộ và t́nh yêu thực tế. Ta sẽ làm ǵ trên đường hải nghiệp thênh thang? Mỗi bến nước là một bến t́nh hay song hỷ long môn?

Những chàng Đệ Nhất Nam Dương miệt mài trau giồi kiến thức tổng quát, qui tắc hàng hải trong các giảng đường thoáng mát dưới rặng thùy dương ŕ rào hay réo rắc tùy theo cơn gió mậu dịch. Thực tập hải nghiệp là môn học, hầu như mới lạ đối với thư sinh, càng thêm phần hấp dẫn và hào hứng như các buổi cắm trại.

Ngỡ ngàng và xa lạ đă nhanh chóng tan biến nhường chỗ cho t́nh đồng đội qua các sinh hoạt tập thể. Thân t́nh nẩy nở, rắn chắc, môi trường cởi mở đă kết hợp thành từng nhóm có cùng cá tính.

Nhóm “giang hồ” rất phóng khoáng, ít bị ràng buộc bởi qui luật của xă hội. Họ giữ sinh hoạt chừng mực trong học hành cũng như du hí. Họ không chăm chỉ nhưng biết chu toàn trách nhiệm. Một hôm, 5 cánh chim giang hồ miệt mài với phố phường đến quên mất giờ về tổ. Trể rồi. Về, chắc đụng đầu với Sĩ quan trực. Vài phùa cấm trại là cái cẳng. Bèn bay tiếp. Tờ mờ sáng, 5 cánh chim về tổ an toàn. Bài học thực tế đầu tiên về ước tính t́nh báo tỏ ra hữu hiệu.

Nhóm “mẫu mực” sống rất khuôn phép, chân chỉ hạt bột. Chưa hề “nhảy rào” hoặc cợt nhă, lăng nhăng. Họ học rất chăm, chẳng chịu rời giảng đường tự học khi tiếng kèn ngũ mời gọi. Với họ, sổ kỷ luật là một chi phí vô ích của nhà trường.

Nhóm “cả bựa” ít khi chịu học hành đứng đắn. Nhưng, chẳng mấy khi vắng mặt trong toán “đi bờ”. Thích trụ ở câu lạc bộ cho đến lúc kèn điểm danh mới thực hiện cuộc đua việt dă. Họ có vẻ mê mệt mấy nàng “kiều nữ thùy dương” ở Nha Thành. Tuy nhiên, chân/giả thế nào chỉ có trời biết.

Nhiều “ốc đảo” cũng h́nh thành từ cá tính mỗi người. Sau các hoạt động tập thể bắt buộc, th́ họ quay về cố thủ trong ốc đảo khép kín. Đúng kiểu “một mănh t́nh riêng, ta với ta” (thơ Bà Huyện Thanh Quan).

Mấy chàng sính văn nghệ mê mệt với tiếng hát liêu trai của Thanh Thúy, giọng ca nũng nịu mang âm hưởng sông Hương của Hà Thanh, tiếng hót trong veo của Hoàng Oanh, giọng hát ngọt ngào, mượt tợ nhung của Lệ Thu ... Ánh sáng mờ mờ, gió hiu hiu thổi bên ngoài lan can giảng đường hay pḥng ngũ là nơi các chàng thả hồn vào cỏi mộng t́nh.

Hôm đó, sĩ quan trực là giáo sư môn hàng hải, bắt gặp vài chàng sinh viên đang ngồi bên ngoài lan can trong ánh trăng vàng nhạt. Bèn hỏi “Các anh đang làm ǵ đó?”. Thưa Trung úy, chúng tôi đang t́m sao. Vị giáo sư đầu gật gù, tay vuốt mũi ra chiều hài ḷng và lên xe phóng thẳng. C̣n lại mấy chàng tiếp tục t́m sao từ tiếng hát ma quái của Thanh Thúy “Sao rơi rớt rụng, vai em ướt mềm. Em ơi! khóc đi em, khóc nữa đi em”. Sinh viên Hải quân Lê Văn Rạng và Phạm Thành Long là hai “mê sĩ” qua làn sóng phát thanh.

Không khí Quân trường đă kết hợp những cá nhân đến từ khắp miền đất nước thành một tập thể. Cuộc chung sống của những thanh niên cùng hoài bảo tạo thành niềm hănh diện cho mỗi người thuộc Đệ Nhất Nam Dương.

Mùa Thu năm 1962, hai năm sau ngày tề tựu và sống chung dưới mái quân trường là buổi chia tay. Họ tung cánh khắp bốn phương trời, trên vạn nẻo đường đất nước với hành trang kiến thức biển cả tương đối đầy đủ và cặp mắt rực sáng niềm tin. Từ đó, mỗi người là một nét sống riêng biệt trong sinh hoạt của Hải Quân Việt Nam Cộng Ḥa.

Nguyễn Ngọc

Đại Dương-NN